Starting
as a poor country enduring years of war, and suffering over ten years of
mismanaged economical reform, VietNam is now on tract of to renovate its
development. It faces enormous challenges in its dealing with the ways of World
Trade Organization-WTO in general and also with a number of WTO existing
members.
In
addition, as VietNam enters the world stage, the global community quickly comes
to expect a lot more from the country’s traditionally opaque and rigid minded
leaders.
This
speech focuses on major issues as well as challenges which VietNam needs to
resolve promptly: 1- The state of state-owned enterprises, 2- Monetary and
banking system, 3- Local and foreign investments, 4- Administration reform,
5-The need of labor power and technologists, 6- capabilities of maritime
transportation, 7- The up haul of countrywide communication system, 8- Last but
not least, the psychology and response of its the people vis-a-vis
globalization.
In
other words, VietNam’s success as a member of WTO depends on its ability to
adapt and respond to the challenges listed above. Vietnamese politics and
policies business ought to be critically reviewed and changed in order to face
this exciting but difficult new situation.
Finally,
the following ideas are suggestions to help VietNam fulfill its role within the
global community:
•
Complete abolishment of different forms of state subsidies;
•
Complete transformation of the current administration system;
•
Replacement of the concept of “free market with a socialist-oriented
market mechanism” by the practice of economic openness;
•
Determination to reduce the gap between the classes by systematically
fighting and ending corruption at all levels of public service.

Vào
ngày 11 tháng 1 năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập
vào Tổ chức Thương mại Thế giới
tức World Trade Organization (WTO). Kể từ ngày nầy
Việt Nam đă đi vào cuộc chơi chung toàn cầu.
Cho
đến nay (tháng 7, 2007), vừa hơn sáu tháng trong bước
đường hội nhập, quá tŕnh tiếp cận và
hội nhập trong khoảng thời gian ngắn ngũi
nầy đă cho chúng ta thấy một số điểm c̣n
tồn đọng cũng như những thách thức cho
Việt Nam trong những ngày sắp đến. Bài viết
nầy có mục đích nêu ra những vấn đề
trên để chúng ta, trên căn bản lợi ích chung
của toàn dân Việt Nam cùng trao đổi hay cùng
đưa ra những ư kiến thiết thực và khoa
học trong tiến tŕnh Việt Nam hội nhập vào
cộng đồng thế giới.
Nhận
định tổng quát
Biến
cố tan ră của Liên Xô đánh dấu sự phá
sản của chủ nghĩa Cọng sản quốc
tế, chấm dứt t́nh trạng đối đầu lưỡng
cực giữa khối Tự do và khối Cọng sản;
từ đó đưa đến sự h́nh thành một
khuynh hướng chung của thế giới, mệnh danh là
“toàn cầu hóa”. Khuynh hướng nầy được
xem như là một sinh lộ tất yếu của các nước
đang phát triển và đặc biệt là các quốc
gia đă một thời đặt ḿnh thuộc khối
Cọng sản quốc tế, nếu muốn tồn
tại và phát triển trong t́nh h́nh mới.
Sự
toàn cầu hóa bao gồm toàn bộ các lĩnh vực văn
hóa, xă hội, và được chú ư nhiều nhất là
lĩnh vực kinh tế. Về lĩnh vực sau cùng
nầy, nhu cầu toàn cầu hóa bao gồm sự hội
nhập của các nền kinh tế quốc gia vào nền
kinh tế quốc tế thông qua thương mại, đầu
tư ngoại quốc qua những công ty quốc gia hay
đa quốc gia, lưu lượng vốn ngắn hạn,
lưu lượng công nhân quốc tế, lưu lượng
công nghệ trao đổi, v.v...
Riêng
đối với nước Việt Nam, kể từ sau
ngày 30/4/1975, Việt Nam có thể được xem như
hoàn toàn thống nhất về phương diện chính
trị, địa dư, và xă hội. Lănh thổ Việt
Nam bị đảng Cọng sản thu về một
mối, theo chế độ toàn trị do một Trung
ương đảng gồm 160 Ủy viên chính thức,
21 Ủy viên dự khuyết, và 14 Ủy viên Bộ chính
trị, tổng cộng 195 bộ óc “ưu việt”
Việt Nam điều hành tất cả mọi sinh
hoạt của 84,7 triệu dân (thốáng kê tháng 5/2006).
Đứng
về phương diện phát triển kinh tế và xă
hội trong 10 năm đầu tiên sau 1975, hầu như
tất cả mọi người trong và ngoài nước
đều đồng ư xác định sự thất
bại hoàn toàn của một chính sách kinh tế tập
trung rập khuôn theo cộng sản Nga Tàu. Đây là
một giai đoạn đen tối nhất của
lịch sử Việt Nam, ngay cả so với thời phong
kiến và thới Pháp thuộc.. Mọi sinh hoạt đều
bị đ́nh trê, nhiều vùng bị nạn đói đe
dọa thường xuyên dù trước đây là vùng lương
thực cho cả nước như Đồng bằng sông
Cửu Long. Giáo dục, y tế công cộng hoàn toàn
bị bỏ ngơ...

Cả
nước đang phải theo con đường... Bác
Đi!
Đứng
trước nguy cơ diệt vong kề cận, năm 1986,
CS Việt Nam không thể chọn con đường nào
kahc hơn là phải áp dụng một chính sách kinh tế
mở, nhưng vẫn c̣n “bịn rịn” chưa mở
hoàn toàn nên đă đưa ra chiêu bài “kinh tế
thị trường theo định hướng xă hội
chủ nghĩa” nửa vời. Nhưng nhơ đó, người
dân bắt đầu được nới lơng hơn
trong ṿng kềm kẹp, nông dân được cấp
quyền xử dụng mănh đất của ḿnh dù là
tạm bợ để tự khai thác và tự cứu văn
đời sống kinh tế của gia đ́nh. Những năm
tiếp theo sau đó, nguy cơ tuy vẫn c̣n đầy
rẫy khắp nơi, t́nh trạng xă hội và kinh tế
chung vẫn c̣n nhiều gập ghềnh, chập chững
trên bước đường phát triển và hội
nhập vào thế giới bên ngoài.
Măi
đến tháng 12 năm 2001, khi Hiệp ước Thương
măi hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ thành h́nh
(US-VietNam Bilateral Trade Agreement), kinh tế Việt Nam tương
đối hồi sinh và có thể nói đây là bước
mở đầu tiện của VN trên tiến tŕnh
hội nhập vào Tổ chức Thương mại
Thế giới (WTO).
Cũng
cần nói thêm về những thông tin trao đổi kinh
tế hai chiều giữa VN và HK trong giai đoạn trước
đây. Năm 1993, VN hoàn toàn không xuất cảng hàng hóa
vào nội địa HK; ngược lại, VN nhập
cảng 7 triệu Mỹ kim thiết bị từ HK. Sau ngày
3 tháng 2, 1994, Tổng thống Clinton, HK đă ra quyết
định băi bơ lịnh cấm vận thương
mại cho VN; kể từ đó, VN bắt đầu tăng
dần việc xuất cảng sang HK lên đến trị
giá 50,5 triệu cho năm nầy.
Bảy
năm sau khi hiệp ước trao đổi hai chiều kư
kết, hàng hóa VN gồm thực phẩm, hàng may mặc,
dầu thô, giày da, sản phẩm gỗ nội thất
ồ ạt vào thị trường HK, và lượng hàng
hóa tiếp tục tăng măi, từ 1 tỷ Mỹ kim năm
2001, lên đến 5,9 tỷ, năm 2005. Ngược
lại, HK chỉ xuất cảng độ 1,2 tỷ vào VN
trong năm 2005. gồm dụng cụ y khoa, máy móc kỹ
thuật và dụng cụ hàng không.
Đây
cũng là những chỉ dấu ban đầu cho VN
lần lần thực hiện tiến tŕnh gia nhập vào
Tổ chức Thương mại Thế giới. Và
Việt Nam đă chính thức gia được chấp
thuận nhập vào cuộc chơi toàn cầu nầy vào
ngày 7 tháng 11 năm 2006.

Tổ
chức Thương mại Thế giới
Tổ
chức Thương mại Thế giới hay World Trade
Organization-WTO, có trụ sở đặt tại Thụy Sĩ
đă được thành lập chính thức vào ngày
1/1/1995 do các quốc gia thành viện kư tại thành phố
Marrakesh, Marocco. Tính đến nay, Tổ chức nầy
tập hợp được 149 quốc gia thành viên
nhắm vào những mục tiêu sau đây:
-
Quy định những căn bản pháp lư làm
nền tảng cho mọi trao đổi thương măi
quốc tế;
-
Tổ chức là diễn đàn đàm phán, thỏa
thuận, thương lượng về tất cả
mọi dịch vụ thương mại giữa các
quốc gia thành viên.
Cũng
từ ngày 1/1/1995, VN đă nộp đơn xin gia nhập
vào tổ chức trên và trở thành quan sát viện
của tổ chức. Nhóm công tác WTO cũng đă
được thành lập và có nhiệm vụ cứu xét
đơn xin gia nhập của VN.
Tính
đến nay, VN đă trả lời trên 2.600 câu hỏi
từ các thành viên, và đă kết thúc đàm phán song phương
với 21 quốc gia.
Đối
với HK, văn kiện chính thức giữa hai bên đă
được kư kết vào ngày 31/5/2006 thỏa thuận
trên nguyên tắcvề khả năng tiếp cận
thị trường song phương; từ đó sẽ giúp
hai bên tái lập hàng rào thuế quan cho những mặt hàng
kỹ nghệ và nông phẩm, cùng dịch vụ.
Kết
quả là hàng hóa xuất cảng từ HK vào VN như
trang thiết bị xây dựng, dược phẩm, phi cơ
và các bộ phận rời bảo tŕ sẽ chịu
thuế suất là 15% hay ít hơn. Về dịch vụ, VN
cũng đă cam kết mở cửa một số lănh
vực cấm kỵ từ trước như viễn thông
và viễn thông vệ tinh, lănh vực tài chính, ngân hàng, và
năng lượng cho HK nhún tay vào.
Một
khi đă vào WTO, VN cần phải tuân thủ những tính
chất pháp trị như: 1- giải quyết tranh chấp;
2- giảm bớt vai tṛ của mậu dịch quốc doanh;
3- hủy bỏ những giới hạn nhập cảng
của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài qua quyền thương mại; 4- hủy bỏ
những quy chế kinh tế phi thị trường. Ngược
lại, HK sẽ áp dụng kinh tế phi thị trường
trong các vụ kiện chống phá giá cho đến khi VN
ra khỏi nền kinh tế phi thị trường.
Thời gian chuyển tiếp cho chính sách nầy là 12 năm
sau khi VN gia nhập vào WTO. Và sau cùng, VN phải tuân thủ
quy tắc và luật bảo vệ sở hữu trí
tuệ.
Để
có một khái niệm về kết quả của việc
gia nhập vào WTO trong những năm vừa qua của các
quốc gia thành viên, một số báo cáo sau đây cho
thấy khuynh hướng cũng như thành quả của
WTO ngày càng bị thu hẹp lại. Vào năm 2003, trong
kỳ họp WTO ở Cancun, Ngân hàng Thế giới (WB)
đă đưa ra những số liệu về thương
mại toàn cầu qua dịch vụ trao đổi trên
thế giới là 832 tỷ Mỹ kim, trong lúc đó 539
tỷ nằm trong các sinh hoạt giữa các quốc gia
đang phát triển. Tuy nhiên, tổng kết năm 2005 cho
thấy lợi ích của WTO giảm xuống c̣n 287 tỷ
cho thế giới, trong đó chỉ c̣n 90 tỷ trao đổi
giữa các quốc gia đang phát triển dù số thành
viên của các quốc gia nầy dự phần vào 90%
tổng số thương mại toàn cầu.
Một
khi đă là thành viên của WTO, Việt Nam cần phải
tuân thủ các cam kết được ghi trong Bảng cam
kết dịch vụ gồm 3 phần: 1- cam kết chung; 2-
cam kết cụ thể; 3- và danh mục các biện pháp
miễn trừ đối xử tối huệ quốc.
Trong bảng cam kết dịch vụ, có đề cập
đến các quy định vế chính sách đầu tư,
h́nh thức thành lập doanh nghiệp, thuê đất, các
biện pháp về thuế khóa, và trợ cấp doanh
nghiệp trong nước. Trong mỗi dịch vụ
lại c̣n có nhiều quy định cụ thể cần
phải tuân thủ như viễn thông, bảo hiểm, ngân
hàng, vận tải v.v…
Và
sau cùng, mỗi thành viên tùy theo điều kiện
hiện hữu của từng quốc gia có thể đề
nghị mức độ cam kết ở bốn tầng
bậc khác nhau. Đó là: cam kết toàn bộ, cam kết
kèm theo những hạn chế, không cam kết, và không cam
kết v́ không có tính khả thi kỹ thuật.
Như
vậy, trong điều kiện Viêt Nam hiện tại,
điều rơ nét nhất là Việt Nam chỉ có khả năng
cam kết theo từng dịch vụ ở những điều
cam kết thứ hai, ba, và bốn mà thôi do những khía
cạnh thực tế của Việt Nam sau sáu tháng
hội nhập.
Vào
ngày 7/11/2006, Việt Nam đă chính thức được
chấp thuận vào
Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), cũng
như vào cuối tháng 11/2006 vừa qua, quốc hội
Việt Nam đă chính thức phê chuẩn các điều
luật trên. Và Việt Nam đă chính thức nhập
cuộc ngày 11 tháng giệng năm 2007 rồi.
Vấn
đề nơi đây là cần ghi nhận đứng
đắn nội lực thực tế của VN đứng
trước vận hội mới này, nghĩa là VN trao
đổi, xuất cảng ra thế giới bên ngoài
những ǵ? Và ngược lại phải nhập cảng
từ ngoại quốc những sản phẩm nào?
Giải đáp hai câu hỏi trên, chúng ta có thể h́nh
dung được thế mạnh và yếu của VN trong
tương lai. Từ đó, có thể dự phóng
được một viễn ảnh cho đời
sống người dân trong những ngày hậu WTO.
Tính
đến ngày hôm nay, VN đă xuất cảng đi
khắp nơi trên thế giới một số lượng
đáng kể về trọng lượng, nhưng ngược
lại thu hồi một số ngoại tệ không đáng
kể so với lượng hàng bán ra. Đó là nông
phẩm, thực phẩm, tôm cá, các mặt hàng gia công như
quần áo, giày da, xẽ gỗ, dầu thô và một
số mặt hàng tiểu thủ công nghệ.
Ngược
lại, VN phải nhập cảng xăng dầu và nguyên
vật liệu, máy móc thiết bị, hóa chất, phân bón,
thực phẩm “cao cấp” như thịt gà, ḅ....., năng
lượng, viễn thông, ngân hàng..... Đây là những
mặt hàng nhẹ về cân lượng nhưng cần
phải chi ra một số lớn ngoại tệ. Do đó,
VN luôn luôn đối mặt với sự thâm thủng ngân
sách cho ngoại thương từ trước đến
nay.
Thêm
nữa, những mặt hàng xuất cảng của VN
chỉ để giải quyết cuộc sống của hàng
triệu nông dân hay công nhân với mức lương
tối thiểu- trong khi đó cuộc sống của nông
dân và công nhân VN ngày càng tệ hại hơn, mặc dù
VN cố gắng gia tăng mức sản xuất hàng năm.
Lấy thí dụ về ngành may mặc hiện tại.
Một công nhân Việt Nam làm việc 12 giờ/ngày, sáu ngày/tuần
lănh được từ 600 đến 800 ngàn Đồng
VN/tháng, tương đương 37 đến 50 Mỹ
kim. Trong lúc đó, một thợ may Việt Nam tại
Mỹ làm việc tám giờ/ngày với mức lương
tối thiểu quy định là 7,75 Mỹ kim/giờ,
tức 62 US$/ngày, hơn xa một tháng lương của
một công nhân cùng ngành tại VN.
Tại
thị trường nội địa, hiện tại VN
đang làm chủ v́ lợi thế sân nhà, và một
số ngành nghề c̣n độc quyền và không cho người
ngoại quốc tham dự. Do đó, mức cạnh tranh chưa
hề được đặt ra, và nếu có, chỉ là
những cạnh tranh giữa những nhà kinh doanh trong nước
mà thôi.
Một
khi cánh cửa WTO mở toang, VN sẽ không c̣n lư do nào
để cấm đoán ngoại quốc tham gia trực
tiếp vào thị trường nội địa của
VN. Từ đó, mức cạnh tranh sẽ quyết
liệt hơn và chưa chi thua thiệt có thể chắc
chắn về phần doanh thương VN qua sự chênh
lệch về nguồn vốn, kỹ thuật, cung cách
khuyến măi, và thị hiếu của người tiêu dùng
VN.
Xin
đan cử một thí dụ điển h́nh qua h́nh
thức thương mại đơn giản nhất là
hệ thống “siêu thị”: Siêu thị Walmart (Hoa
Kỳ) có mức doanh thu gấp 5-6 lần tổng sản lượng
của VN, có thể tiêu diệt các siêu thị nội
địa trong cung cách thu mua với giá rẽ hơn v́
họ có thể chấp nhận không lời, hoặc
lỗ trong thời gian đầu v́ có nhiều tiền
vốn. Thêm nữa, họ có khả năng nhập
thực phẩm và hàng hóa từ ngoại quốc vào-
điều trên đâøy càng nguy hiểm hơn v́ nó có
thể giết chết nhiều dịch vụ chăn nuôi
và trồng tỉa của người dân. Một lợi
thế nữa của các siêu thị ngoại quốc là
dịch vụ thanh toán thường chỉ giải
quyết sau 90 ngày nhận hàng, chính điều này
khiến cho những nhà cung cấp VN sẽ không c̣n
khả năng tài chính để trả nợ cho ngân hàng
sau mỗi thời vụ.

Nhà
máy đường Tây Ninh
Trước
mắt, chúng ta thấy rơ những kỹ nghệ của VN
liệt kê sau đây đang đi dần vào chỗ bế
tắc:
-
Kỹ nghệ đường hiện nay hoàn toàn
bị phá sản v́ không cạnh tranh được so
với đường Trung Quốc và Thái Lan có phẩm
chất tốt hơn và giá rẽ hơn. Việc này kéo
theo sự bế tắc của nông dân trồng mía.
-
Xuất cảng thủy sản và nông phẩm
hiện đang bị nhiều cản ngại do an toàn
về thực phẩm không đủ tiêu chuẩn, do dư
lượng kháng sinh và sự hiện diện của các hóa
chất phụ gia trong thực phẩm. Điều nầy
đă bị nhiều quốc gia trả về lại nguyên
xứ trong những đợt xuất cảng gần đây,
nhất là Hoa Kỳ, khách hàng lớn nhất của
Việt Nam.
-
Chăn nuôi gia súc ở VN cũng đang đứng
trước cơn phá sản do kỹ thuật chăn nuôi
c̣n nhiều khiếm khuyết. Từ đó, việc
nhập cảng cánh và đùi gà Mỹ hiện tại là
một dịch vụ đem nhiều lợi nhuận
lớn cho một số cán bộ có quyền. V́ cánh và
đùi gà Mỹ giá rất rẽ $0.2/bls (v́ người
Mỹ không thích ăn) , khi nhập vào VN có thể bán ra
$1,5/kg
-
Các kỹ nghệ đơn giản khác như xe
đạp, dụng cụ làm bếp, trang trí nội
thất sẽ không c̣n khả năng cạnh tranh với hàng
TQ nếu chưa nói đến các nhà sản xuất
lớn như ở HK, Pháp, Ư..... Những mặt hàng
rất bắt mắt và được người VN
ưa chuộng từ lâu. Chính tâm lư ưa chuộng hàng
ngoại quốc của người VN sẽ giết
chết công kỹ nghệ VN khi VN gia nhập vào cuộc chơi
chung. Và mặt trái của WTO có thể biến VN thành
một thị trường tiêu thụ của quốc
tế hơn là một thị trường sản xuất.
Một
số rào cản VN đang đối mặt trước
ngưỡng cửa WTO được tiếp tục tŕnh
bày sau đây cũng là những gợi ư mà VN cần lưu
tâm. Đó là những cản ngại của khu vực
quốc doanh, ngành ngân hàng, khả năng vận chuyễn
đường biển, ngành viển thông di động và
một số phản ứng tâm lư của người dân
VN trước tiến tŕnh toàn cầu hóa.
Một
trong nhiều yêu cầu để VN gia nhập vào WTO là VN
phải minh bạch trong việc kiểm toán chi thu của
quốc gia. Do đó, lần đầu tiên trong lịch
sử đảng, CSVN đă đưa ra bản báo cáo
từng phần ngân sách nhà nước năm 2005. Theo
đó, riêng trong lănh vực quốc doanh, 19 tổng công ty
và ngân hàng quốc doanh trên 4.447 quốc doanh toàn quốc,
cho thấy kết quả kiểm toán hoàn toàn đưa
đến thua lỗ và công ty quốc doanh đă làm kinh
tế theo một chính sách “ phi kinh tế”. Sau đây là
vài con số thua lỗ cũa các công ty quốc doanh trong năm
2005: Ngành dệt may lỗ 328 tỷ Đồng; ngành
giấy lỗ 199 tỷ Đồng ; ngành lương
thực lỗ 183 tỷ Đồng (1 tỷ Đồng tương
đương 60.000 Mỹ kim). Tổng số nợ
của 16 doanh nghiệp các ngành kễ trên là 47,000 tỷ
đồng, tương đương với 80% tổng tài
sản của các công ty. Do đó, những công ty trên hoàn
toàn không c̣n khả năng thanh toán phần nợ và
lỗ lă.
Hiện
tại, con số các công ty quốc doanh biến thành
cổ phần hóa (tức tư nhân hóa) là 3.830. Trong đó
vốn nhà nước là 49%, công nhân viên, cán bộ trong
doanh nghiệp đóng góp 26%, và vốn tư nhân đầu
tư ngoài doanh nghiệp 25%. Với tỷ lệ và thành
phần cổ đông như trên, th́ trách nhiệm hay linh
hồn của công ty vẫn là nhà nước hay quốc
doanh mà thôi. Và đối với việc kinh doanh lỗ lă
trên, nhà nước VN lại phải gánh chịu hay “
Đất nước VN” qua hơn 84 triệu dân,
phải cật lực lao động để trả
nợ? Và một khi đă “giải tư” theo cung cách
vừa kể, công ty tư doanh
cổ phần sẽ thuộc về ai? và ai sẽ
chịu trách nhiệm? Do đó, qua việc tư nhân hóa
để thỏa măn yêu cầu cũa những luật
định WTO, vô h́nh chung, VN đă biến các công ty
quốc doanh thành một loại công ty đặt dưới
cơ chế bao cấp khác.
Ngoài
ra, đừng quên rằng, đă từ hơn 30 năm qua
ở VN, các cơ chế làm kinh tế bao cấp đă
đưa đất nước vào ngơ cụt. Có thể
nói nhận định gần đây của ông Đào Xuân
Sâm, ban nghiên cứu của Thủ tướng hiện
tại, đă nói lên một cách rốt ráo vấn đề
nầy: “ Trong hơn 10 năm qua, song song với
vịệc tư doanh đổi mới và tăng trưởng
thành công, khu vực kinh tế nhà nước trên thực
tế đă trở lại cơ chế cũ tập trung
quan liêu - bao cấp, có khác chăng là trong nền kinh
tế thị trường “ bao cấp hiện vật”
chuyển thành “ bao cấp tài chính””. Và cơ chế
bao cấp này cũng chính là mọt h́nh thức của cơ
chế xin – cho, đă trở thành miếng đất màu
mỡ cho nạn tham nhũng lộng hành trong khu vực nhà
nước, từ đơn vị kinh tế cơ sở
đến các cấp cao nhất của chính quyền”.
Như
vậy, VN làm thế nào và bằng cách nào để
thực hiện được lời T.T Nguyễn tấn
Dũng mới vừa tuyên bố là trong ṿng 5 năm
tới, VN bảo đảm cổ phần hóa 100% doanh
nghiệp quốc doanh?
Cũng
theo quy định của WTO, VN phải mở cửa ngân hàng,
chấp nhận dịch vụ ngân hàng
ngoại quốc trong giai đoạn chuyển tiếp
(năm năm sau khi gia nhập) có thể đầu tư
tối đa 30% tổng số vốn của ngân hàng. Một khi VN chính
thức vào cuộc, tư nhân nào có thể mua cổ
phần c̣n lại (tức 70%) của một ngân hàng
ngoại quốc, vốn dĩ có nguồn vốn lớn và
bằng hệ thống tiền tệ cứng (hard currency),
trong lúc đó tư nhân, hay tập thể tư nhân VN
chỉ có khả năng đóng góp bằng những
số vốn nhỏ và thế chấp, cũng như
chuyển hóa cơ sở vật chất thành tiền.
Từ đó, dù công ty ngoại quốc không chiếm đa
số tuyệt đối, nhưng vẫn có khả năng
khuynh đảo thị trường bằng những
thủ thuật kinh tế tư bản, và VN sẽ
chịu một sức ép không nhỏ về vấn nạn
này.
Theo
thống kê mới nhất (2006), tín dụng của ngân hàng
ngoại quốc dành cho Việt Nam là 14% trên số
tổng dư nợ cho vay
là 60 ngàn tỷ đồng, tương đương
với 360 tỷ Mỹ kim. Với sự hiện diện
của ngân hàng ngoại quốc, liệu ngân hàng Việt
Nam có học được cung cách quản lư, cùng
những cơ hội phát triển về các mặt
sản phẩm, vế những mô h́nh mới, hay về năng
lực chuyên môn cho nhân sự v.v…không? Chính những
yếu tố nầy sẽ góp phần vào việc hoạt
động lành mạnh của ngân hàng.
Trở
lại các Công ty ngân hàng VN, một trong những lư do các
doanh nghiệp quốc doanh thua lỗ mà vẫn tồn
tại cho đến ngày hôm nay, là việc nhà nước
tiếp tục bơm tiền bù lỗ thông qua các ngân hàng
quốc doanh. Hay nói cách khác, các ngân hàng phải chịu
sức ép từ nhà nước, bị bắt buộc
tiếp tục cho công ty quốc doanh vay căn cứ theo
chủ trương chính trị hơn là căn cứ theo
t́nh trạng kinh tế.Và sau cùng, ngân hàng được
nhà nước tái cấp thêm những ngân khoản bổ
sung. Đó là trường hợp của bốn ngành Ngân
hàng Công thương, Ngân hàng ngoại thương, Ngân hàng
Đầu tư & Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp
& Phát triển. Do đó, việc cổ phần hóa ngân
hàng quốc doanh hoàn toàn bế tắc. Và việc
chuyển doanh nghiệp quốc doanh sang chế độ
hoạt động của một công ty trách nhiệm
hữu hạn là một việc làm không tưởng, ít
ra trong những năm sắp tới v́ những yếu
tố sau đây: 1- Người quản lư ngân hàng
hiện tại vẫn c̣n giử năo trạng càng cải
tổ chậm càng có lợi, do đó, họ cố
gắng tŕ hoản công việc nầy; 2- Một khi có
cổ phần hóa, “những ông chủ ngân hàng” sẽ
bị chi phối và giám sát do các nhóm lợi ích khác, do
đó, quyền hạn của họ sẽ bị hạn
chế, kéo theo mức thu nhập cá nhân của họ
sẽ bị giảm đi v́ không c̣n khả năng móc
ngoặc hay làm những điều sai trái; 3- Các cấp
quản lư trong đảng sẽ mất hẳn quyền
lực một khi ngân hàng đă được cổ
phần hóa toàn phần.
Một
khi đă vào WTO, điều đó không có nghĩa là
thế giới sẽ tuôn tiền vào đầu tư
ở Việt Nam để cho con tàu Việt Nam vượt
đại dương đi khắp năm châu., dù cho
điều kiện phát triển ở Việt Nam hiện
tại vẫn c̣n là điều kiện tối ưu cho
đầu tư ngoại quốc. Lư do là Việt Nam
hiện chưa đáp ứng được nhu cầu
tối thiểu cho việc phát triển. Đó là hạ
tầng cơ sở cần có để phát triển trong
thế toàn cầu hóa ngày nay.
WTO
sẽ không ảnh hưởng trực tiếp vào mỗi
người Việt một sớm một chiều
được qua mức tăng trưởng của
lợi tức đầu người hàng năm. Đó
chỉ là những con số biểu kiến, nói lên
mức đầu tư của ngoại quốc trong các chương
tŕnh xây dựng hạ tầng cơ sở (nếu có) như
năng lượng, cầu cống, đường xá, và
tất cả các nhu cầu kiến trúc quốc gia cần
thiết cho sự phát triển xă hội.
Do
đó, trong những năm đầu nếu thực
sự có mức đầu tư ồ ạt của
thế giới, người dân chưa ắt hản có
được một đời sống kinh tế khá hơn.
Và,
với cung cách làm ăn hiện tại của Việt Nam
trong lĩnh vực đầu tư, điều cần
nhất là phải thay đổi năo trạng sơ
cứng, suy nghĩ mang lợi trước mắt mà không
nh́n hại ở sau lưng (phát triển không bền
vững, không bảo vệ môi trường chẳng
hạn) bằng cung cách làm ăn thật thà, làm thật,
nói thật, và sống thật với nhau. Làm như
thế mới hy vọng gây được niềm tin cho
đối tác đầu tư ngoại quốc, và họ
sẽ dễ chấp nhận trong điều kiện đôi
bên cùng có lợi (win-win situation).
Một
vài thí dụ căn bản trong tương lai là, trong
kỹ nghệ dệt may chẳng hạn, nếu để
nhà đầu tư ngoại quốc tin tưởng và
hợp tác, họ sẽ mang nguồn vốn, máy móc, công
nghệ dây chuyền sản xuất mới cùng cung cách
quản lư mới. Từ đó, mức sản xuất dĩ
nhiên sẽ tăng bội phần và mang theo lợi
nhuận về cho cả hai phía đối tác. Và hơn
nữa, người công nhân lần lần sẽ
được cải thiện trong lao động như làm
ít giờ hơn theo tiêu chuẩn lao động thế
giới, có đầy đủ chương tŕnh bảo
hiểm xă hội, và sau cùng đời sống kinh tế
của công nhân sẽ được nâng cao do mức
đăi ngộ của công ty đă điều chỉnh
một khi đă có lời nhiều.
Một
điểm quan trọng cần nêu ra đây là nhu cầu
cần đầu tư ngoại quốc trong lănh vực môi
trường.Theo cam kết về dịch vụ môi trường
khi Việt Nam gia nhập vào WTO là, Việt Nam sau bốn năm,
dịch vụ môi trường có thể có được
100% vốn nước ngoài được phép hoạt
động ở Việt Nam.
Một
điều rơ ràng và chắc chắn là lối giải
quyết những vấn nạn môi trường hiện
tại của Việt Nam chỉ làm tăng thêm nguy cơ
ô nhiễm ở cả ba dạng của môi trường
không khí, đất, nước mặt và nước
ngầm qua sức tàn phá môi trường do phát triển và
không cân bằng việc bảo vệ môi trường.
Cho
đến nay, những nhà đầu tư ngoại
quốc trong lĩnh vực nầy chỉ có thể cấp
vốn không quá 51% của dự án, và công ty nước
ngoài phải chấp nhận tối thiểu là 20% cán
bộ quản lư và chuyên môn người Việt Nam. Điều
nầy là một trong những yếu tố chính làm
tắt nghẽn nhiều dự án cải tổ môi trường
như thiết lập các nhà máy xử lư nước
rỉ của rác sinh hoạt và phế thải kỹ
nghệ. Bao nhiêu dự án đều bị thất bại
nửa chừng do nhiều nguyên nhân khác nhau mà hai nguyên nhân
chính là do cung cách quản lư tồi và nạn tham nhũng.
Dự án kinh Nhiêu Lộc đă tiêu tốn ngân sách trên
200 triệu Mỹ kim vào năm 2000, và hiện tại, năm
2007, cũng trên 200 triệu khác bị thất thoát do các
cty Đại Hàn và Đài Loan móc ngoặt vơi tham nhũng.
Mặc dù đầu tư ngoại quốc rót vào cho các
dự án trên hàng trăm triệu Mỹ kim trong những năm
gần đây như dự án Băi rác Đông Thạnh, G̣
cát I và II, III, và IV, dự án khu liên hiệp Đa Phước
v.v…tất cả đă để lại và làm cho môi trường
ngày càng xấu đi.
Đây
mới chính là một thách thức lớn nhất cho
Việt Nam. Nói một cách rốt ráo, Việt Nam cần
phải mở rộng cánh cửa để cho nhà đầu
tư ngoại quốc trực tiếp đầu tư
nguồn vốn, thiết bị, quản lư và vận hành
nhà máy để rối từ đó, Việt Nam có điều
kiện học hỏi một cách chính xác và thực
tế hơn qua kinh nghiệm của những chuyên gia nước
ngoài.
Hệ
thống hành chánh chánh thức của Việt Nam hiện
tại gồm ba cơ chế khác nhau: - cơ chế đảng
ủy gồm khoảng 270 ngàn cán bộ; - cơ chế công
nhân viên chức gồm 210 ngàn nhân viên; - và cơ chế
tại địa phương gồm cả đảng
ủy và nhân viên, có độ 280 ngàn. Có thể nói
cả ba cơ chế tạo thành một thủ tục hành
chánh trùng lấp, và chồng chất lên nhau ở
nhiều giai đoạn. Thủ tục từ đó
trở nên phức tạp làm cho người dân khó
tiếp cận trực tiếp và được giải
quyết vấn đề một cách thỏa đáng.
Tất
cả v́ cung cách đùn việc, chuyển việc qua
những nhân sự khác v́ sợ trách nhiệm cũng có.
Cung cách cường quyền cũng thể hiện
nhiều mặt nơi đây, đôi khi vượt
khỏi quyền hạn hay luật định của cán
bộ có trách nhiệm quyết định sự việc.
Tất cả chỉ v́ cơ chế không rơ ràng và sự
thiếu minh bạch trong khi giải quyết các thủ
tục hành chánh cho “ông chủ của đất nước”
là người dân đen.
Vào
đầu tháng 4,2007, tại Hà Nội, ông Scott Jacobs,
Chủ tịch hảng tư vấn Jacobs&Associates, trong
hai ngày hội thảo dưới đề tài:”Đơn
giản hóa thủ tục hành chánh: Kinh nghiệm quốc
tế và những gợi ư chính sách cho Viêt Nam” do
Viện Quản lư Kinh tế trung ương tổ chức.
Ông đă tŕnh bày một tham luận về:”Kinh
nghiệm toàn cầu về cải cách thể chế và
quản trị kinh tế trong nền kinh tế WTO”, trong
đó, ông đă phân tích cải cách thể chế
(regulatory reform) tại nhiều nước trên thế
giới, cũng như giới thiệu một số mô h́nh
cải cách như mô h́nh “máy xén” (guillotine). Các quy định
trong mô h́nh kinh tế mở nầy cần phải có để
nâng cao năng suất và cải cách thể chế để
có thể đạt được mục tiêu tạo ra
một thể chế chi phí thấp, ít rủi ro đồng
thời bảo đảm các lợi ích môi trường và
an toàn sức khỏe.
Muốn
đạt các mục tiêu trên, ông nói tiếp, Việt Nam
cần phải sàng lọc các quy định hiện hành,
có cơ chế phản biện và tham vấn tốt để
bảo đảm các quy định mang lại phẩm
chất cao, xây dựng các thể chế tốt để
bảo đảm cơ sở hạ tầng, và sau cùng,
về nhân sự cần phải được phân
nhiệm rơ ràng, cụ thể, và không thể thiếu
vắng tính minh bạch trong nhiệm vụ.
Việt
Nam cũng vừa đưa ra Đề án 30, tức là
Đề án “Đơn giản hóa thủ tục hành chánh
trên các lĩnh vực quản lư nhà nước giai đoạn
2007- 2010” do Thủ tướng
Nguyễn Tấn Dũng kư duyệt.
Tuy
nhiên, mặc dù có nhiều chuẩn bị trên giấy
tờ như đă nói trên, nhưng trên thực tế,
cung cách quản lư của Việt Nam vẫn c̣n tồn
đọng nhiều nan đề cần phải giải
tỏa. Được biết, vào cuối thập niên
1980, Ngân hàng Thế giới đă cử chuyên viên đến
nghiên cứu việc cải cách hành chánh thí điểm
ở tỉnh Quảng B́nh trong bốn năm. Nhưng
kết quả sau cùng chỉ là con số không v́ các báo cáo,
đề nghị cải tổ không được
Việt Nam lưu tâm đến. Một thí dụ khác cho công
cuộc cải các hành chánh thất bại khác của
Việt Nam là vào năm 1999, Đề án 112 được
bắt đầu thực hiện mạng lưới
giữa các Bộ, Ngành ứng dụng công nghệ thông
tin vào công tác quản lư. Đề án đă tiêu tốn
trên 4.000 tỷ Đồng Việt Nam, tương
đương 2,4 tỷ Mỹ kim. Và mới đây, vào tháng
tư, cũng chính Nguyễn Tấn Dũng đă kư thông tư
chấm dứt Đề án v́ thất bại hoàn toàn cũng
như không quy trách nhiệm và xử phạt ai cả!. Con
số 2,4 tỷ Mỹ kim đă tan thành mây khói.
Để
bù lại việc nầy, ngày 21 tháng 5 vừa qua,
Nguyễn Tấn Dũng vừa kư kết với Steve Ballmer,
TGĐ Điều hành Cty Microsoft một hợp đồng
mua bán quyền xử dụng phần mềm nhằm thúc
đẩy công nghệ thông tin trong lănh vực hành chánh và
ngân hàng. Lại một chi tiêu khổng lồ mới
sẽ làm tăng số nợ ngoại quốc Việt Nam
đă phải bắt đầu trả một phần
vốn và tiền lời mỗi năm trên 2 tỷ Mỹ
kim.
V́
vậy, trong hiện tại, muốn thực sự cải
cách, cần phải thanh toán hệ thống hai chính
quyền đang tồn tại từ trung ương đến
địa phương. Số nhân viên của đảng
ủy trong cơ chế chính quyền cao hơn số nhân
viên hành chánh trên toàn quốc, làm sao có thể có
được một sự vân hành quốc gia ổn
định nếu chỉ phải cải tổ hành chánh
trong giới công nhân viên chức mà thôi? Nói về ngân sách,
dù đây là một bí mật quốc gia, nhưng chỉ
cần nh́n kỹ lại chúng ta sẽ thấy đảng
đang sở hữu và quản lư một khối lượng
chi tiêu và tài sản khổng lồ so với tổng ngân
sách quốc gia.
Thêm
nữa, làm sao có thể thực hiện được
cải cách hành chánh khi nền tư pháp không được
độc lập, các ṭa án chỉ xử theo quyết
định của cấp đảng ủy mà thôi.
Và
điều sau cùng, quân đội và công an phải là công
cụ chung và trung thành chỉ với tổ quốc và
chỉ phục vụ cho nhân dân. Hai cơ quan nầy không
thể nào phục vụ và trung thành với đảng
cộng sản được.
Do
đó, Việt Nam cần thực hiện các cải cách
kể trên trước khi nói đến cải cách hành chánh
để hội nhập vào tiến tŕnh toàn cầu hóa
ngày nay.
Căn
cứ theo lư thuyết kinh tế Clarke, sự phát tiển
của một quốc gia tiến hành qua ba giai đoạn:
giai đoạn phát triển nông nghiệp, phát triển công
nghiệp và phát triển dịch vụ. Tại các
quốc gia kỹ nghệ cao, phát triển công nghệ và
dịch vụ rất cao và chiếm tuyệt đại
đa số. Như Hoa Ky chẳng hạn hiện tại
chỉ có khoảng một triệu nông dân (0,30% dân số)
cung cấp lương thực và thực phẩm cho toàn
quốc và viện trợ khắp nơi trên thế
giới.
Kể
từ khi bắt đầu mở cửa để phát
triển, hiện tại Việt Nam có 90 khu chế xuất
(KCX) hay khu công nghiệp (KCN) và dự kiến vào năm
2010 sẽ có thêm 60 KCX và KCN mới. Do dó vấn để
đặt ra ở đây là việc đào tạo và cung
ứng đủ số lượng công nhân trong những
ngày sắp tới.
Riệng
tại Sài G̣n chẳng hạn, hiện có 15 KCX, trong đó
có trên 1.000 doanh nghiệp đang hoạt động thu
dụng 210.000 lao động. Đến năm 2010, Sài G̣n
dự kiến tăng thêm 300 ngàn lao động có tay
nghề kỹ thuật và chuyên môn cao như cơ khí,
điện, điện tử, công nghệ thông tin v.v…
Sự
chuyển dịch qua giai đoạn công nghiệp đ̣i
hỏi thêm lao động chuyên môn, nhưng t́nh trạng
ở Việt Nam hiện tại, có thể nói hầu
hết lao động là lao động phổ thông (95%).
Vấn đề đào tạo thêm lao động sẽ là
một vấn đề lớn cho Việt Nam trong những
năm sắp tới.
Tệ
trạng luôn luôn thừa lao động tay chân, nhưng
lại thiếu lao động có tay nghề cao, v́ Việt
Nam chưa thực sự chuẩn bị cho việc huấn
nghệ lao động thích ứng với những đề
án đấu tư phát triển mới: v́ vậy, thu
nhập nhiều đầu tư ngoại quốc, xây
dựng thêm nhiều nah máy sản xuất, nhưng lại
thiều lao động kỹ thuật cũng là một
khiếm khuyết lớn của Việt Nam. Thách thức
nầy là một trọng tâm để Việt Nam suy
gẩm và chuẩn bị
trước khi phải đối mặt với việc
con trâu đứng trước cái cày.
Thêm
một tầng lớp lao động mới nữa cũng
cần phải đề cập nơi đây là giới
luật sư. Việt Nam mới vừa gia nhập vào WTO mà
đă có trên 20 vụ kiện trước mắt về bán
phá giá và t́nh trạng nầy chắc chắn sẽ tăng
thêm từ đây đến cuối năm v́ những tin
tức dồn dập vềcác mặt hàng xuất cảng
của Việt Nam bị nhiễm trùng, chứa dư lượng
hóa chất độc hại cao, ghi sai thương
hiệu (giả dối), … do đó các vụ kiện theo
sẽ không thể tránh được. Hiện tại,
lực lượng luật sư chuyên về mặt tranh
chấp thương mại hầu như chưa xuất
hiện. Với hiện trạng trên, chắc chắn
Việt Nam sẽ phải thua thiệt trong những vụ
kiện sắp tới đây.
Đào
tạo một luật sư chuyên môn trong lănh vực thương
mại quốc tế không pahỉ là câu chuyện một
sớm một chiều và cần pahỉ đài tạo
với một số lượng lớn để đáp
ứng với t́nh thế mới.
Việt
Nam đă lưu tâm và chuẩn bị chưa?

Lao
động (Cửu vạn) đang chờ việc ở Hà
Nội.
Việc
gia nhập vào WTO đ̣i hỏi quốc gia thành viên
phải có tiềm lực về chuyển vận hàng hóa
hai chiều. VN đă chuẩn bị vấn đề này
như thế nào? Các thông tin dưới đây tương
đối đầy đủ để mô tả t́nh
trạng vận chuyển đường biển của VN.
Chỉ
bốn ngày sau khi được băi bỏ cấm vận năm
1994, công ty chuyển vận hàng hóa APL, Hoa kỳ đă
bắt đầu hoạt động trở lại cho các
tuyến đường Mỹ – Việt Nam. Đây là
một đại công ty trong dịch vụ chuyển
vận trên 50 quốc gia. Từ năm 2004, APL đă thành
lập thêm hai chi nhánh là Vietnam China Express (VCX) và Haiphong
China Express (HCX). Những dịch vụ này đă rút
ngắn thời gian vận chuyển trong những năm
trở lại đây: Từ Sài G̣n đến Seattle
chỉ c̣n 15 ngày, và Saig̣n đến Los Angeles là 17 ngày. C̣n
Hải Pḥng đến Seattle và Los Angeles là 13 và 15 ngày.
Ưu điểm này đă làm giảm giá thành và tăng
thêm lượng hàng hóa giao thông do việc gia tăng lượng
chuyển vận đi - về.
Trong
khi đó, t́nh trạng vận tải đường
biển của VN hoàn toàn không đáp ứng nhu cầu
vận chuyển viễn liên này. Theo thống kê, VN có trên
1000 tàu với tổng trọng tải khoảng 3,5
triệu tấn, trong đó chỉ có hơn 300 tàu hoạt
động trên các tuyến đường quốc tế
trong khu vực. Các tàu vận chuyển VN có trọng
tải dưới 20,000 tấn, cho nên không có khả năng
giải quyết mức trao đổi hàng hóa đường
biển. Và bất lợi hơn nữa là giá thành vận
chuyển cao và ṿng xoay đi - về không đạt
hiệu quả kinh tế.
Theo
thống kê 2005, đội tàu VN chỉ chiếm 7% số
tấn trọng tải hàng hóa hai chiều mà thôi. Trong lúc
đó những nước nhỏ láng giềng như
Singapore chỉ có khoảng 900 tàu nhưng tổng trọng
tải lên đến 36,5 triệu tấn. Thậm chí,
đội tàu của Campuchia đă chuyển vận
gần 5 triệu tấn, hơn VN hàng triệu tấn. Do
đó, ngay tại sân nhà, đội tàu VN đă bị
lấn áp bởi các công ty ngoại quốc như Maersk
line, NYK, P&O trong dịch vụ chuyển vận dầu thô
và hàng hóa trong vùng.
Những
thông tin trên cho thấy rằng VN c̣n phải đối
mặt với nhiều sức ép sau khi gia nhập vào WTO, và
nếu không có kế hoạch tạo dựng một
lực lượng tàu với trọng tải lớn hơn,
huấn luyện nhân viên quản trị chuyển vận,
cùng điều chỉnh và canh tân hệ thống quản
lư điều hành, th́ cuộc chạy đua cạnh tranh
với quốc tế sẽ thấy VN ở thứ
hạng thấp nhất.
Vào
tháng 12,2007, Ban chấp hành Trung ương đảngCS
Việt Nam đă ra nghị quyết về “Chiến lược
biển Việt Nam đến năm 2020”, trong đó đề
ra những điểm chính sau:
-
Việt Nam phải phấn đấu để
trở thành một quốc gia mạnh về biển;
-
Xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên
hải gắn liền với các hạot động kinh
tế biển làm động lục quan trọng đối
với sự phát triển của các nước.
Chiến
lược c̣n đặt ra chỉ tiêu cho năm 2020 là
kinh tế biển phải đóng góp 53- 55% cho GDP và 55- 60%
cho xuất khẩu của cà nước.
Chiến
lược không nói đến căn cứ vào dữ
kiện àno mà Việt Nam có thể đạt được
những thành tích nhảy vọt trên mặc dù khả năng
chuyển vận đường biển của Việt Nam
hiện tại như đă nói trên c̣n quá yếu, kém
cả nước láng giềng là Cambodia. Không đủ
khả năng bốc dở hàng hóa, cũng như các
bến cảng không đủ sức cho các tàu có
trọng ati lớn, cùng tiến độ bốc dở c̣n
chậm lụt… tất cả làm cho giá thành của
xủa sản phấm xuất và nhập cảng cao hơn
giá thành thữc sự.
Thách
thức nầy cũng là một trong những ưu tiên
cần giải quyết v́ Việt Nam nặng về
xuất cảng hàng nông phảm và thủy sản. Đó
là những mặt hàng nặng về trọng lượng
nhưng nhẹ về hiệu quả kinh tế.
Đây
là một ngành tương đối mới ở VN mà
trong những năm gần đây mức tăng trưởng
của việc xử dụng điện thoại di động
tăng từ 60 đến 70% hàng năm. Tính đến
2005, tổng số điện thoại di động thuê
bao ở cả nước đạt được 12
triệu . Chính v́ lư do đó, các hảng điện
thoại ngoại quốc như Motorola, Nokia, Siemens, Ericsson,
Telenor và Lucient Technologies đă khai thác và ráo riết cung
cấp dịch vụ ở VN. Trong lúc đó, VN chỉ
hiện diện qua năm công ty quốc doanh mạng di
động như Vina phone, Mobifone, Viettel mobile, S-fone, E-mobile
đang hoạt động, và một công ty mới sắp
ra mắt là Hanoi Telecom.
Đứng
trước sự xâm nhập của các đại công ty
ngoại quốc, từ tháng 1 năm 2006 vừa qua, các công
ty VN đồng loạt hạ giá cước, do đó cước
viễn thông của VN giảm dần và đang ở
mức giá trung b́nh tại ĐNA, không c̣n đứng
đầu như cách đây năm năm. VN cũng đă
dự trù vào 2008 sẽ phóng vệ tinh VINASAT, từ đó
sẽ tạo cơ hội cạnh tranh nhiều hơn
với các công ty nước ngoài. Và VN cũng dự trù
cổ phần hóa (tư nhân hóa) các công ty trên để
có thể hội nhập vào thị trường chứng
khoán tự do.
Nhờ
vào những lợi điểm trên sân nhà, VN đă đẩy
mạnh chương tŕnh viễn thông di động, tuy nhiên
với nguồn vốn không đủ lớn, sau khi
hội nhập cuộc chơi WTO, các công ty ngoại
quốc có thể khai thác sức mạnh nguồn vốn
để thôn tính các công ty VN qua các điều kiện
thuận lợi trong thị trường VN, mặc dù trong
giai đoạn chuyển tiếp, các công ty nước ngoài
chỉ được đóng góp vốn đến 49% và
cũng chỉ được liên doanh với đối tác
VN đă được cấp giấy phép.
Hơn
nữa, ngoài khả năng nguồn vốn, công ty
ngoại quốc c̣n ở thế mạnh về công
nghệ sản xuất và cung cách khuyến măi theo cung cách
tư bản làm cho công ty VN khó có khả năng đối
đầu ở mặt trận nầy. Tuy nhiên, VN cũng
có thể dùng thời gian c̣n đặc ân 12 năm để
làm rào cản hạn chế bớt sự xâm nhập
của các công ty viễn thông ngoại quốc vào VN.
Cũng cần lưu ư là, hiện tại VN chú
trọng nhiều đến viễn thông di động, nhưng
không phát triển viễn thông “cố định”,
tức là điện thoại dùng hệ thống dây cáp
quang để có thể liên lạc và thông tin khi có
biến động xảy ra như chiến tranh hay áp
lực của thế giới tây phương. V́ c̣n
lệ thuộc vào ngoại quốc, VN chưa chủ động
được việc điều hành vệ tinh viễn
thông, cho nên viễn thông di động VN có thể bị
gián đoạn, v́ các công ty cho thuê bao vệ tinh viễn
thông có thể cắt đứt hợp đồng trước
sức ép của quốc tế(!) để gây khó khăn
cho VN.
Sau
vụ động đất ở Đài Loan vào tháng 2,
2007 làm tê liệt hệ thống cáp quang của Đài
Loan và Việt Nam do Việt Nam thuê bao. T́nh trạng nầy
đă cắt đứt hệ thống điện
thoại viễn liên của Việt Nam trong nhiều ngày.
Sau đó, Việt Nam đă quyết định xây
dựng hệ thống cáp quang riêng do cty Hoa Kỳ
thiết kế av thực hiện. Tuy nhiên do t́nh trạng
kinh tế chung (nghèo) của người dân không ổn
định, các hệ thống cáp quang vừa được
lấp đặt lại bị những átu “đánhc á”
“đánh cắp” hàng trăm hàng ngàn tấn dây cáp quang
để lấy đồng (copper) đem đi bán. Theo
ước t́nh của Việt Nam sự thất thoát cho
đến nay đă lên đến hàng trăm triệu
Mỹ kim.
T.S
Branco Milanovic, kinh tế gia của Ngân hàng Thế giới
(WB) đưa ra nhận định cần suy gẫm. Đó
là “Toàn cầu hóa đă làm tăng thêm sự bất b́nh
đẳng giữa công dân của những nước giàu
nhất cũng như giữa các quốc gia đang phát
triển”. Lư do làm ông đưa ra nhận định trên
là những phản ứng trái ngược từ phía các
quốc gia kỹ nghệ và những nước đang phát
triển đối diện với sự phất triển
của ẤnĐộ và Trung Quốc.
Đó
là:
-
Các cường quốc trong WTO “khó chịu” trước
nhũng bước tiến của TQ và AĐ, dù họ cũng
thực hiện cùng một chiến lược toàn
cầu hóa do các cường quốc khơi mào.
-
TQ và AĐ hiện có khả năng cạnh tranh trên
phạm vi toàn cầu, nhưng chỉ có một phần
nhỏ dân cư của họ có cuộc sống phồn
vinh. Sự bất b́nh đẳng ngày càng tăng giữa
dân thành thi và nông thôn, giữa miền duyên hải và
nội địa ở Trung Quốc; những bất
ổn chính trị cũng có thể tự đó mà có.
Tại
VN, sau hơn 20 năm mở cửa phát triển, và sau 10 năm
mức tăng trưởng đạt chỉ tiêu từ 7%
trở lên, VN phải đối mặt với t́nh
trạng môi trường hầu như bế tắc qua
việc tận dụng nguồn tài nguyên đất đai
trong phát triển nông nghiệp, chăn nuôi và trồng
trọt.
Việc
phát triển và xuất cảng hàng năm 5 triệu
tấn gạo, thu hồi 1,5 tỷ Mỹ kim, cũng như
việc xuất cảng hải sản thu hồi trên 5
tỷ, có đem lại sự phồn vinh hay cải
thiện cuộc sống của người dân ĐBSCL hay
không? Nh́n vào mức di dân
từ vùng này vào các thành phố lớn, nh́n vào tệ
trạng học sinh bơ học hàng loạt trong những năm
gần đây, nh́n vào việc chấp nhận “làm dâu”
người ngoại quốc của các thiếu nữ
miền Tây, nh́n vào tất cả những h́nh thái tệ
hại nhất trong việc buôn người, bán trẻ
con... chúng ta cũng đă có thể h́nh dung câu trả
lời.
Thêm
nữa, việc khai thác quá độ nguồn đất
ở VN sẽ đưa đến những thảm
họa không xa. LHQ mới vừa cảnh giác, nếu VN
tiếp tục khai thác như những năm vừa qua, th́
trong ṿng 10 năm nữa sẽ có 4 triệu mẫu đất
bị sa mạc hóa.
Đây
cũng là nguyên nhân dự báo trước khiến cho tâm
lư người dân ở những vùng nông nghiệp, vùng sâu
và xa càng thêm tuyệt vọng và ngày càng đánh mất ḷng
tự trọng để làm bất cứ việc ǵ
chỉ v́ kế “mưu sinh”. Chính họ đă xem
nhẹ số phận của chính ḿnh và không c̣n niềm
tin vào chính sách của nhà nước nữa. Tâm lư trên
đă tạo ra một thái độ bất cần đời,
bất hợp tác, hay nguy hiểm hơn nữa, là có
thể tạo ra những bất ổn xă hội v́ “cơm
áo”. Từ đó có thể đưa đến một
bất ổn chính trị nếu có một sự khơi mào
trong tầng lớp bần cùng này. Đây cũng là
một cản ngại mà VN cần phải lưu tâm.
Sự
phát triển xă hội của một quốc gia được
đánh giá là bền vững khi tầng lớp trung lưu
chiếm đa số như ở các quốc gia Tây Âu và
Hoa Kỳ. Và chính tầng lớp trung lưu nầy là tác
nhân điều tiết mọi biến động kinh
tế của quốc gia. Trong trường hợp VN,
mặc dù mức tăng trưởng có đều nhưng
đồng thời khoảng cách giàu nghèo cũng gia tăng,
và trong t́nh trạng hiện tại, tầng lớp trung lưu
chỉ chiếm theo ước tính độ 30% chưa
đủ để làm chất đệm cho xă hội. Chính
hai yếu tố nầy nói lên cung cách phát triển kinh
tế của VN là chưa bền vững được.
Đồng
thời với việc gia nhập vào ngưỡng cửa
WTO, VN đă lên tiếng báo động là có thể có 600
ngàn công nhân ngành dệt may, 300 ngàn công nhân ngành giầy
da, 400 ngàn nông dân chăn nuôi thủy sản có nguy cơ
bị mất việc v́ cạnh tranh. Vấn đề
được đặt ra nơi đây không phải là
những con số dương tính hay âm tính. Nhưng la,ø
việc VN cần soi chiếu vào t́nh trạng hiện
tại của quốc gia để hoạch định hướng
hội nhập thích nghi với tiến tŕnh toàn cầu hóa
trong đó việc gia nhập vào WTO chỉ là một bước
trong tiến tŕnh trên.
Qua
những gợi ư về những cản ngại căn
bản trên, việc gia nhập vào WTO của VN không
phải là một yếu tố đ̣n bẩy chủ
yếu tạo nên tăng trưởng kinh tế quốc
gia. Điều cốt lơi
là VN cần phải chuyển đổi năo trạng, xác
định rơ chính mức tăng trưởng kinh tế
quốc gia mới có
thể tạo điều kiện thuận lợi cho xây
dựng và thúc đẩy quá
tŕnh hội nhập của VN để được thành
công hơn. Đây mới đúng là mục tiêu tối
hậu của việc hội nhập vào cuộc chơi
của toàn cầu.
Muốn
đạt mục tiêu, VN cần phải phát triển lành
mạnh và trong sáng trong quản lư, nghĩa là tạo ra
một xă hội pháp trị, quản lư bằng luật
định của quốc hội chứ không bằng
nghị quyết đến từ bất cứ nhân
vật cao cấp nào trong đảng. VN cần phải b́nh
đẳng và công bằng trong mọi quyết định
về nhân sự, đặc biệt là nhân sự trong
vấn đề quản lư kinh tế và kế hoạch,
khuyến khích tư nhân đầu tư nguồn vốn và
chất xám vào công cuộc phát triển quốc gia chung.
Đặc biệt là cần phải chấm dứt chính sách
Hồng hơn Chuyên, v́ đây mới đích thực là
một cản ngại lớn nhất cho mọi tiến
bộ của đất nước..
Làm
được như thế, VN sẽ giảm bớt gánh
nặng phá sản của các công ty quốc doanh, kéo theo
mức thâm thủng của ngân hàng qua những món nợ
“xấu”. Hai yếu tố sau nầy là nguyên nhân chính
của t́nh trạng tham nhũng trong nước.
Một
yếu tố sau cùng cũngcần cảnh báo cho Việt
Nam là khoảng cách giàu nghèo ngày càng nới rộng so
với trước kia. Điều nấy chính là một
nghịch lư lớn trong phát triển. Theo công bố
mới nhất của Ngân hàng Thế giới vào tháng
3,2007 qua hội thảo “Công bố báo cáo cập nhật
nghèo”, tiêu chuẩn nghèo của Việt Nam là 5.766 Đồng/ngày
(tương đương 0,30 Mỹ kim), trong lúc đó tiêu
chuẩn nghèo của LHQ là 2 Mỹ kim/ngày. Khoảng cách giàu
nghèo ngày càng nơi rộng ra, và phúc lợi tạo ra do
phát trỉan không phân phối đồng đều cho người
dân.
Những
nguyên nhân chính cho tệ trạng kể trên
là: 1- Việc xử dụng vốn đầu tư
cho quốc gia không hiệu quả làm cho nỗ lực xóa
đói giảm nghèo không tiến triển như ư muốn;
2- Việt Nam phải mất 5 Mỹ kim đầu tư
để có được 1 Mỹ kim tăng trưởng
thay v́ 3 Mỹ kim như ở các quốc gia đang phát
triển trong vùng. Thử hỏi 2 Mỹ kim thất thoát
đó có phải là do môi trường tham nhũng tạo
ra hay không? Và đây củng chính là nguyên nhân chính đẩy
cao khoang cách giàu nghèo.
Do
đó, muốn thực sự hội nhập vào tiến tŕnh
toàn cầu hóa qua WTO, Việt Nam
cần phải thay đổi toàn diện và triệt
để. Cái đuôi “Kinh tế thị trường theo
chiều hướng xă hội chủ nghĩa” đă
thất bại hoàn toàn qua những chứng minh trên.
Từ đây, từ giờ phút nầy, thiết nghĩ, cường
quyền cần phải lột bơ năo trạng cũ để
thay đổi và thành thật với chính ḿnh. Thay đổi
kinh tế không chưa đủ, cần phải thay đổi
toàn diện những vấn đề của xă hội,
từ bơ độc quyền lănh đạo, căn nguyên
của tất cả những bế tắc của Đất
Nước hiện tại. Trong giai đoạn chuyển
tiếp c̣n gọi là thời kỳ quá độ, người
cộng sản thường hô hào là tiến nhanh, tiến
mạnh, tiến vững chắc lên xă hội chủ nghĩa
bằng con đường “kinh qua” giai đoạn tư
bản chủ nghĩa hiện nay. Nhưng đây, chỉ là
những bước tiến “cổ điển” của
một quốc gia đang phát triển đi lên tư
bản chủ nghĩa thời phôi thai ở vào đầu
thế kỷ 19. Đó là bước đầu của cách
mạng cơ khí và công nghiệp mà chính người
cộng sản đang dọ dẫm và ṃ mẫm học
con đường nầy trong gượng ép và dưới
sức ép của sự sống c̣n của một tầng
lớp tư bản “đỏ” mới.
Sau
nhiều thập niên sống trong chiến tranh, sau hơn 32
năm phát triển trong ḥa b́nh, rơ ràng cơ chế
quản lư bao cấp cũng như cơ chế quản lư
theo cung cách phát triển thị trường tự do theo
định hướng xă hội chủ nghĩa cho đến
nay đă đem lại cho người dân được gí?
Có chăng là tuyệt đại đa số dân chúng
chỉ cầu mong hàng ngày được thỏa măn nhu
cầu sống c̣n ở bậc thấp nhất là
miếng cơm manh áo.
Bao
giờ người dân Việt mới có thể bước
thêm một bước nữa để đạt
được các nhu cầu cao hơn như được
sống trong an b́nh, được trân trọng, và
sống có lư tưởng để góp phần vào công
cuộc đóng góp cho quốc gia!
Mai
Thanh Truyết
Orange,
Tháng 7, Đinh Hợi